0359509160

Lactobacillus reuteri ở trẻ bị táo bón chức năng mãn tính

Lactobacillus reuteri ở trẻ bị táo bón chức năng mãn tính

Nghiên cứu ngẫu nhiên, mù đôi, đối chứng với giả dược này nhằm đánh giá hiệu quả của việc bổ sung Lactobacillus reuteri DSM 17938 ở trẻ bị táo bón mãn tính. 44 trẻ sơ sinh tham gia nghiên cứu, 6-12 tháng tuổi và tất cả đã cai sữa mẹ.

Nghiên cứu ngẫu nhiên, mù đôi, đối chứng với giả dược này nhằm đánh giá hiệu quả của việc bổ sung Lactobacillus reuteri DSM 17938 ở trẻ bị táo bón mãn tính. 44 trẻ sơ sinh tham gia nghiên cứu, 6-12 tháng tuổi và tất cả đã cai sữa mẹ. Lactobacillus reuteri được dùng trong 8 tuần với liều 10 ^ 8 CFU, một lần mỗi ngày, 30 phút sau khi ăn.

Trong nhóm bổ sung, tần suất đi tiêu (BM) là 2.82 lần/ tuần tại tuần 0, so với 4,77 ở tuần 8 (P = 0,0001). So với những trẻ dùng giả dược, tần số BM trong nhóm Lactobacillus reuteri đã được tăng lên đáng kể tại tuần 2, 4 và 8 của điều trị. Trong nhóm Lactobacillus reuteri, bệnh nhân có phân rắn là 19/22 (86%) ở baseline, 11 (50%) ở tuần 2 và 4 (18%) ở cả tuần 4 và 8, sự khác biệt có ý nghĩa ở tuần 4 và 8 (P = 0,01). Tuy nhiên, không có sự khác biệt đáng kể về thể chất phân giữa hai nhóm ở bất kỳ thời điểm nào.

Nghiên cứu L.reuteri DSM 17938 với trẻ táo bón chức năng mãn tính

Hình. 1 Tần số của BM trong nhóm Lactobacillus reuteri và giả dược. Trẻ sơ sinh được điều trị với Lactobacillus reuteri có một tần suất đi tiêu cao hơn đáng kể so với trẻ ở nhóm dùng giả dược ở tuần 2 (P = 0,042), ở tuần 4 (P = 0,008), và ở tuần 8 (P = 0,027) của điều trị.

Kết luận: trẻ sơ sinh táo bón được bổ sung Lactobacillus reuteri có tần suất đi tiêu cao hơn đáng kể theo thời gian so với nhóm dùng giả dược. Thể chất phân cũng được cải thiện đáng kể ở nhóm Lactobacillus reuteri, mặc dù không có sự khác biệt đáng kể so với giả dược.

Tài liệu tham khảo:
Coccorullo P, Strisciuglio C, Martinelli M, Miele E, Greco L, Staiano A. Lactobacillus reuteri (DSM 17.938) ở trẻ bị táo bón mãn tính chức năng: a mù đôi, ngẫu nhiên, nghiên cứu đối chứng với placebo. J Pediatrics 2010; 157: 598-602.

Xem chi tiết TẠI ĐÂY

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *